"Viết về chiến tranh khó lắm, bởi, muốn nói tận cùng về chiến tranh, phải nói về phận người…"- nhà thơ Thái Thăng Long (tên thật là Thái Gia Trí) vốn từng là một chiến sĩ trinh sát đặc công nói với tôi ngay khi vừa gặp. Trong cái nhạy cảm của người trinh sát - nhà thơ này làm cho tôi cảm giác mình được chạm vào sâu hơn những kí ức của một thời oanh liệt.
NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN
Năm 1968 khi đang là sinh viên năm I trường đại học tổng hợp văn Hà Nội, chú lên đường nhập ngũ và chuyển vào tiểu đòan trinh sát, thuộc bộ tư lệnh đặc công B2. Gian khó, ác liệt và nhất lầchứng khiến điều tàn khốc khi bước ra chiến trường đã khiến nhiều người trốn trở về phố thị phồn hoa. Nhưng chú vẫn vững lòng. Chú được huấn luyện những công việc thấy trước mắt la vào sinh ra tử “bởi vậy phải tự nhủ mình không thể làm kém, vì kém là chết”. Bắt đầu những cuộc hành quân đêm ngày dọc theo đường đất nước.
Năm 1969 chú bị sốt rét ác tính. Ba ngày ba đêm nằm dưới hầm nghe 22 đợt bom B52 dội như cày nát mặt đất tại khu 5 Lộc Ninh, Bình Phước. Cảm giác phận người giữa cuộc chiến nhỏ nhoi như cọng cỏ. Nhờ đồng đội bón cho một chén cháo, chú chống gậy tiếp tục cuộc hành quân. Tưởng như gục ngã, vậy mà cũng qua, lại lao ra chiến trường bằng tất cả những gì có thể.
Sống thời chiến, nghĩa là thấy cái chết trước mắt. Những trận càn của địch, những trận bom dội như mưa trên đầu cũng không ngăn được lòng vững tin của thế hệ thanh niên yêu nước ngày đó. Trận càn lịch sử Đông Dương năm 1970 -1971 tại biên giới Campuchia, trung đội trinh sát của chú bị sư đòan máy bay, xe tăng của Mỹ bao vây mấy ngày đêm. Đồàng độâi ngã xuống trước mắt, những người tuổi mười chín, đôi mươi chưa sống trọn tuổi thanh xuân đã nằm lại nơi chiến trường. “Lúc ấy không hề sợ chết. Cảm giác đó lạ lắm, nó làm mình chiến đấu tới cùng, một cuộc chiến giành sinh tử, ít nhấât là cho mình, trong khi nghĩ về đất nước. Chiến tranh luôn là nơi khốc liệt. Có những khi tải thương đồng đội liên tục ba ngày ba đêm sau trận đánh, thấy thân phận người trong thời chiến sao bi hùng…” chú kể.
CẦM SÚNG VÀ CẦM BÚT
Thuở còn học sinh, chú đã sáng tác. Vào bộ đôi, trong balô hành quân của chú có thêm một quyển sổ nhỏ và hai quyển tập học trò chép đầy thơ về phận người, về tình yêu cuộc sống, về đồng đội, vì “Đó là cảm xúc thực của thời đại, cảm xúc khó phai về một giai đoạn của đất nứơc. Hay đúng hơn, đó là về chính mình, về cuộc sống mình trải qua…”. Sổ đầy, lại viết lên giấy báo, giấy gói, chuyền tay nhau đọc động viên tinh thần.
Chiến khu rừng Sác, được xem là “bao tử”, là “cuống họng” bao quanh Sài Gòn, nơi đơn vị trinh sát đặc công của chú đóng quân đi vào trừơng ca Gío rừng sác “Chú may mắn trở về yên lành sau cuộc chiến tranh khốc liệt nên càng cảm nhận rõ giá trị hạnh phúc mà đồng đội đã hi sinht cho đất nước” Chú tâm sự. Gian khổ khắc họa nên con người, trong trường ca Gío rừng Sác những kí ức không quên cứ cuồn cuộn trở về. Bởi, đó là nơi “là nước, là pháo dùi, là máy bay đi càg, là đồng đội chết không có chỗ chôn..” mà “Ai chưa hái bần chín giặt áo, hốt bùn non gội đầu thì chưa hiểu chiến khu rừng Sác”... Các trận đánh, trận càn của địch cứ liên tục diễn ra và những chiến công có phần của trinh sát rừng Sác trong các trận thắng lớn như trận đánh trên Vịnh Gành Rái, đốt kho xăng Nhà Bè, phá kho bom thành Tuy Hạ… Năm 1973, chú được chuyển về Ban tuyên huấn, dùng ngòi bút làm vũ khí đấu tranh, tuyên truyền và cổ vũ tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đúng ngày 30-4-1975, chú theo mặt trận Cánh Đông với tư cách là trợ líù Sư Đoàn 2 tiến về Sài Gòn trong niềm vui sướng hân hoan chung của dân tộc chứng kiến phút giây lịch sử đất nước sang trang. Vui sướng và tự hào vì chú cũng có chút góp phần ngưng tiếng súng.
Chiến tranh đã đi xa nhưng kí ức một thời vẫn còn mãi vì sau cuộc chiến là những phận người còn đó những niềm riêng, những phận riêng đó chú dành trên trang viết. Sống ở đất nước hoà bình là niềm hạnh phúc lớn. Chú mong rằng các bạn tuổi tím nỗ lực và biết nghĩ về đất nước, về cộng đồng và hãy biết trân trọng, gìn giữ truyền thồng tốt đẹp mà mình đã có. Đất nước đang trông chờ vào các bạn trẻ đấy…
Xuân Lê
|
Thời Gian Huyền Thoại
Vẹn nguyên những cánh rừng ta ở Núi trong mơ Mưa trong nhớ Chập chùng miền lạ suốt bấy năm Rưng rưng tiếng chuông chùa xa lắc Rưng rưng cọng rơm vàng Tiếng tàu điện leng keng. Tuổi thơ mãi mãi là em Huyền thoại chừng ấy năm kết lại Những ô đời ba bốn chiều xoay trở Cứ lần đi Rồi lại lần về. Hun hút những mùa không tưởng Hun hút ô vuông dòng chữ. Bờ thời gian Mà chẳng có thời gian? Huyền thoại màu xanh Chiều lãng đãng Huyền thoại hồn say ngất cõi xa... Ngân nga ngàn năm chuông đồng dóng dả. Vó ngựa Mỵ Châu Rắc lông ngỗng trắng trời. Huyền thoại tình yêu Ta nghiêng mình đứng lặng Dẫu núi xa rồi Phố nhỏ của tôi.
Thái Thăng Long |